Nam Kỳ Lục Tỉnh gồm có những tỉnh nào?

Nam Kỳ Lục Tỉnh gồm có những tỉnh nào?

Nam kỳ lục tỉnh hay còn gọi là Nam Kỳ, là vùng đất độc lập vào thời vua Minh Mạng năm 1832 gồm 6 tỉnh: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đương thời, người Pháp thường gọi đây là vùng đất “Hạ Đàng Trong” sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông năm 1862 và chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây vào năm 1867. Theo thời gian và sự biến chuyển của lịch sử, vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh có những thay đổi sâu sắc về mặt hành chính, văn hóa cũng như phân chia lãnh thổ.

Quá trình hình thành Nam Kỳ lục tỉnh

Tên gọi Nam Kỳ Lục Tỉnh

Vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh thời chúa Nguyễn Phúc Châu là vùng đất hoang sơ đầy thú giữ nhưng rất trù phú bởi hệ thống sông ngoài dày đặc đổ về. Trước khi bị thực dân Pháp xăm lược và chiếm giữ vào năm 1867. Nhà Nguyễn đã có tầm nhìn xuyên thấu để khai hoang và mở rộng bờ cõi trên dải đất hình chữ S cũng như phát triển kinh tế, văn hóa cho đến ngày nay.

Theo “Đại Nam Thống Nhất Chí” của quốc sử quán (triều Nguyễn), chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập cho lập phủ Gia Định vào năm Mậu Dần (1698). Sau đó vua Gia Long cho đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định vào năm Nhâm Tuất (1802), đến năm Mậu Thìn (1808) lại đổi thành Gia Định thành gồm 5 trấn: Phiên An, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Về sau, năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn, 1832), vua Minh Mạng cho bãi bỏ Thành Gia Định và chia 5 trấn thành 6 tỉnh với tên gọi: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Chính vì sự thay đổi này của vua Minh mạng và dựa theo vị trí địa lý lúc bấy giờ nên tên gọi “Nam Kỳ lục tỉnh” được ra đời. Hai năm sau (Giáp Ngọ 1834), Nam Kỳ lục tỉnh được gọi một cái tên chung là Nam Kỳ trực thuộc thành Gia Định.

Địa bạ ranh giới thời vua Minh Mạng năm Nhâm Tuất (1836)

Dựa theo vị trí địa lý, vua Minh Mạng chia Lục tỉnh Nam Kỳ thành 2 niềm Đông và Tây, miền Tây gồm: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên;  miền Đông gồm: Gia Định, Định Tường và Biên Hòa. Mỗi miền gồm các tỉnh lỵ có những thủ phủ với tên gọi khác nhau được xếp theo đơn vị hành chính từ Bắc xuống Nam.
Tỉnh lỵ  được chia theo năm 1836.
Trước khi thực dân Pháp xăm lược và chiếm giữ lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867, vua Minh Mạng đã lệnh cho Binh Bộ thượng thư Trương Đăng Quế và Lại bộ thương thư Nguyễn Kim Bảng vào đàng trong để đo đạc ruộng đất và lập địa bạ ở 6 tỉnh. Trong đó:
Phiên An được đổi tên thành Gia Định với tỉnh lỵ là Gia Định và chia thành 2 phủ (Tân Bình & Tân An) với 5 huyện gồm 21 tổng: Bình Long (6 tổng: Dương Hòa (Hạ, Trung, Thượng), Tân Long (6 tổng: Tân Phong (Hạ, Trung, Thượng), Long Hưng (Hạ Trung Thượng), Tân Hòa (4 tổng: Thạnh Hội, Thạnh Mục, Hòa Đồng, Hòa Lạc.), Thuận An (4 tổng: Bình Cách (Trung, Thượng), Thuận Đạo (Trung, Thượng)), Phước Lộc (4 tổng:  Phước Điền (Trung, Thượng), Lộc Thành (Trung, Thượng)). 
Tỉnh Biên Hòa được chia thành 1 phủ (Phước Long), 4 huyện và 24 tổng: Bình An (8 tổng: Bình Chánh (Tây, Hạ, Trung, Thượng), An Thủy (Hạ Trung, Thượng, Đông)), Phước Chánh (6 tổng: Phước Vinh (Hạ, Trung, Thượng), Chánh Mỹ (Hạ, Trung, Thượng)), Phước An (4 tổng: Phước Hưng (Hạ, Thượng), An Phú (Hạ, Thượng)) và Long Thành (6 tổng: Long Vĩnh (Hạ, Thượng), Thành Tuy (Hạ, Thượng)).
Tỉnh Định Tường được chia thành 1 phủ (Kiến An), 3 huyện và 15 tổng:  Kiến Hòa (5 tổng: Hòa Hằng, Hòa Hảo, Hòa Thạnh, Thạnh Phong, Thạnh Quang), Kiến Hưng (5 tổng: Hưng Long, Hưng Nhượng, Hưng Nhơn, Thuận Bình, Thuận Trị), Kiến Đăng (5 tổng: Phong Thạnh, Phong Hòa, Phong Phú, Lợi Trường, Lợi Trinh). Hòa Hằng, Hòa Hảo, Hòa Thạnh, Thạnh Phong
Tỉnh Vĩnh Long được chia thành 3 phủ (Định Viễn, Hoằng An, Tân An), 6 huyện và 45 tổng: Vĩnh Bình (7 tổng: Bình An, Bình Lễ, Bình Long, Bình Phú, Bình Hưng, Bình Thạnh, Bình Xương), Vĩnh Trị (6 tổng: Bình Hòa, Bình Quới, Bình Thới, Bình Trung, Bình Chánh, Bình Khánh), Bảo An (11 tổng: Bảo Phước, Bảo Lộc, Bảo Hựu, Bảo An, Bảo Hòa, Bảo Ngãi, Bảo Định, Bảo Trị, Bảo Thuận, Bảo Khánh, Bảo Thành), Tân Minh (11 tổng: Minh Chánh, Minh Huệ, Minh Lý, Minh Đức, Minh Ngãi, Minh Đạo, Minh Hóa, Minh Trị, Minh Đạt, Minh Thuận, Minh Quới), Tuân Ngãi (5 tổng: Tuân Lễ, Tuân Giáo, Thành Trị, Ngãi Long, Ngãi Hóa), Trà Vinh (5 tổng: Trà Bình, Trà Nhiêu, Trà Phú, Vinh Lợi, Vinh Trị).
Tỉnh An Giang được chia thành 2 phủ (Tuy biên & Tân Thành ), 4 huyện gồm 18 tổng: Tây Xuyên (3 tổng: Châu Phú, Định Thành, Định Phước), Đông Xuyên (4 tổng: An Lương, An Phú, An Toàn, An Thành), Vĩnh An (7 tổng: An Hội, An Thạnh, An Thới, An Trường, An Mỹ, An Tĩnh, An Trung) và Vĩnh Định (4 tổng: Định An, Định Khánh, Định Bảo, Định Thới).
Tỉnh Hà Tiên được chia thành 1 phủ (Quan Biên), 4 huyện gồm 11 tổng: Hà Châu (5 tổng: Phú Quốc, Hà Nhuận, Nhuận Đức, Hà Thanh, Thanh Di), Kiên Giang (4 tổng: Thanh Giang, Giang Ninh, Kiên Định, Kiên Hảo), Long Xuyên (2 tổng: Quảng Xuyên, Long Thủy).

Bản đồ Nam Kỳ Lục Tỉnh

Thay đổi hành chính Nam Kỳ Lục Tỉnh trước khi Pháp xâm lược và chiếm đóng

Từ năm 1864 – 1875, Quốc sử quán triều Nguyễn đã tổ chức biên soạn bộ sách Đại Nam thống nhất chí dựa trên Đại Nam nhất thống dư đồ. Bộ sách này ghi lại những thay đổi đơn vị hành chính của Nam Kỳ lục tỉnh từ năm 1832. Theo đó,  các tỉnh được chia và thay đổi như sau:
Tỉnh Biên Hòa được chia thành 2 phủ Phước Long (Mô Sa) và Phước Tuy (Dô Xoài). Phủ Phước Long được thành lập năm 1808 với 4 huyện Bình An, Phước Chánh, Phước An và Long Thành. Năm 1837, tách 2 huyện Phước An và Long Thành để lập phủ Phước Tuy gồm 3 huyện (Phước An, Long Thành và Long Khánh). Năm 1838 đặt thêm huyện Nghĩa An, năm 1839 đặt thêm huyện Phước Bình.
Tỉnh Gia Định được chia thành 4 phủ (Tân Bình, Tân An, Tây Ninh, Hòa Thạnh). Trong đó:  Phủ Tân Bình được thành  lập năm 1808 với 4 huyện Bình Dương, Tân Long, Thuận An và Phước Lộc. Năm 1832, tách 2 huyện Thuận An và Phước Lộc để lập phủ Tân An với 2 huyện Thuận An (sau đổi thành Cửu An) và Phước Lộc. Năm 1851, nhập thêm 2 huyện Tân Hòa và Tân Thạnh.  Năm 1841 đặt thêm huyện Bình Long. Đến năm 1838, Tây Ninh thành lập với 2 huyện Tân Ninh và Quang Hóa. 3 năm sau thì tỉnh Hòa Thạnh được thành lập với 2 huyện Tân Hòa và Tân Thạnh. Năm 1851, phủ bị bãi bỏ, 2 huyện trực thuộc chuyển thuộc phủ Tân An.
Tỉnh Định Tường được chia thành 2 phủ Kiến An (chợ Kai Tài) và Kiến Tường (Cao Lãnh). Trong đó: Kiến An được thành lập năm 1808 với 3 huyện Kiến Hưng, Kiến Hòa và Kiến Đăng. Năm 1832, đặt thêm huyện Tân Hòa. Năm 1838, tách huyện Kiến Đăng để lập phủ Kiến Tường với 2 huyện Kiến Đăng và Kiến Phong. Năm 1841, huyện Tân Hòa chuyển thuộc về tỉnh Gia Định.
Tỉnh Vĩnh Long được chia thành 4 phủ Định Viễn (Vĩnh Long), Hoẳng An, Lạc Hóa (Chà Văng hay Chà Vinh), Hoằng Trị (Bến Tre). Trong đó: Định Viễn thành lập năm 1808 với 3 huyện Vĩnh Bình, Vĩnh An và Tân An. Năm 1813, đặt thêm huyện Vĩnh Định. Năm 1823, tách huyện Tân An để lập phủ Hoằng An với 2 huyện Tân Minh và Bảo An. Năm 1832, tách 2 huyện Vĩnh Định và Vĩnh An chuyển thuộc về tỉnh An Giang, đồng thời đặt thêm huyện Vĩnh Trị. Năm 1837, đặt thêm huyện Duy Minh, đồng thời tách huyện Bảo An để lập phủ Hoằng Đạo. Năm 1851, phủ bị bãi bỏ, các huyện trực thuộc chuyển thuộc về phủ Hoằng Trị. Năm 1825 phủ Lạc Hóa được thành lập với 2 huyện Tuân Nghĩa và Trà Vinh. Đến năm 1837 Hoằng Trị được thành lập với 2 huyện Bảo Hựu và Bảo An. Năm 1844, đổi tên thành phủ Hoằng Trị. Năm 1851, nhập thêm 2 huyện Tân Minh và Duy Minh của phủ Hoằng An cũ.
Tỉnh An Giang được chia thành 3 phủ Tuy Biên, Tân Thành và Hà Biên. Trong đó: Tuy Biên thành lập năm 1832 với 2 huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên. Năm 1839, đổi huyện Đông Xuyên thuộc phủ Tân Thành và đặt thêm huyện Phong Phú, đồng thời tách một phần để lập 2 huyện Hà Âm và Hà Dương thuộc phủ Tĩnh Biên, tỉnh Hà Tiên. Năm 1849, nhập thêm 2 huyện Hà Âm và Hà Dương từ phủ Tĩnh Biên cũ. Năm 1832 phủ Tân Thành được thành lập với 2 huyện Vĩnh An và Vĩnh Định. Năm 1839, đổi huyện Vĩnh Định thuộc phủ Ba Xuyên và đặt thêm huyện An Xuyên, nhập thêm huyện Đông Xuyên từ phủ Tuy Biên. 3 năm sau phủ Hà Biên thành lập với 2 huyện Phong Thạnh và Phong Nhiêu. Năm 1839, nhập thêm huyện Vĩnh Định từ phủ Tân Thành.
Tỉnh Hà Tiên được chia thành 4 phủ An Biên, Khai Biên, Quảng Biên và Tĩnh Biên. Trong đó, phủ An Biên thành lập năm 1825 với 3 huyện Long Xuyên, Kiên Giang và Hà Tiên. Năm 1832, đổi tên thành phủ Quan Biên, đổi huyện Hà Tiên thành Hà Châu. Năm 1834 đổi lại thành phủ An Biên. Năm 1842, nhập thêm huyện Hà Âm từ phủ Tĩnh Biên, đến năm 1844 thì chuyển về lại phủ Tĩnh Biên. Phủ Khai Biên thành lập năm 1834 trên phần đất Vũng Thơm của huyện Hà Châu, nhưng chưa lập huyện. Đến năm 1837 bị hạ xuống thành huyện Khai Biên, tách một phần để lập huyện Kim Trường (sau đổi thành Vĩnh Trường), chuyển thuộc phủ Quảng Biên. Phủ Quảng Biên thành lập năm 1834 trên phần đất Cần Bột của huyện Hà Châu, nhưng chưa lập huyện. Đến năm 1837 lập huyện Kim Trường (sau đổi thành Vĩnh Trường), nhập thêm huyện Khai Biên. Đến thời Thiệu Trị thì bãi bỏ phủ Quảng Biên, cắt đất trả lại cho Cao Miên. 8 năm sau Tĩnh Biên được thành lậpvới 2 huyện Hà Âm và Hà Dương. Năm 1842, huyện Hà Âm chuyển thuộc phủ An Biên, đồng thời phủ Tĩnh Biên chuyển thuộc tỉnh An Giang. Năm 1844 nhập lại huyện Hà Âm. Năm 1848, cắt một phần trả về cho Cao Miên. Năm 1849, phủ Tĩnh Biên bị bãi bỏ, huyện chuyển thuộc về phủ Tuy Biên

Người Pháp xóa bỏ Nam Kỳ lục tỉnh

Từ lúc chiếm đóng 6 tỉnh nam Kỳ vào năm 1867, thực dân Pháp đã có nhiều thay đổi về đơn vị hành chính cũng như lãnh thổ cua nhiều tĩnh lỵ. Tiêu điêm năm 1876, người Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực lại tách ra thành nhiều “hạt” hay các “tiểu khu” đê tự trị. Trong đó:
•    Khu vực Sài Gòn có 5 tiểu khu: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa và Sài Gòn
•    Khu vực Mỹ Tho có 4 tiểu khu: Mỹ Tho, Gò Công, Tân An và Chợ Lớn
•    Khu vực Vĩnh Long có 4 tiểu khu: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sa Đéc

Khu vực Bát Xắc có 6 tiểu khu: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ và Sóc Trăng
Đến năm 1899, người Pháp lại đổi tên hạt thành tỉnh theo Nghị định ngày 16 tháng 1  năm 1899. Lúc bây giờ, toàn cõi Nam Kỳ được chia thành 20 tỉnh với sự phân chia như sau:
•    Tỉnh Gia Định (cũ) chia thành năm tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, Gò Công.
•    Tỉnh Biên Hòa (cũ) chia thành ba tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một.
•    Tỉnh Định Tường (cũ) đổi thành Mỹ Tho.
•    Tỉnh Vĩnh Long (cũ) chia thành ba tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh.
•    Tỉnh An Giang (cũ) chia thành năm tỉnh: Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng, Cần Thơ.
•    Tỉnh Hà Tiên (cũ) chia thành ba tỉnh: Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu.

Ngoài ra còn có 3 thành phố độc lập là Sài Gòn, Chợ Lớn và Cap Saint Jacques không thuộc hạt nào.

Dấu ấn trong văn hóa

Vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh thời vua Minh Mạng (1832) đã bị thực dân Pháp chia tách thành 21 tỉnh vào năm 1899. Theo tình hình, thời điểm này, thực dân Pháp muốn xóa bỏ khu vực Nam Kỳ lục tỉnh nhưng vẫn còn dữ lại hai tiếng Nam Kỳ. Việc giữ lại tên gọi Nam Kỳ này là để phân biệt với 2 củng đất khác là Trung kỳ và Bắc Kỳ. Tuy vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh bị xóa bỏ va2 có phần nào bị nguôi ngoai, nhưng vào thập niên năm 50 và 60, tên gọi Nam Kỳ vẫn được người dân tại các tỉnh xưa thương gọi. Đặc biệt, năm 1908 trên tờ báo Lục Tỉnh Tân Văn do ông Giibert Trần Chành Chiếu làm chủ bút vẫn xuất hiện tên Lục Tỉnh.
Ngày nay, với sự hoàn thiện lãnh thổ và raanh giới sao bao thăng trâm lịch sự của dân tộc. Nam Kỳ lục tĩnh vẫn thường được ghi nhớ và lưu giữ trong lịch sử dân tộc. Với sự khai hoang và thành Lập Nam Kỳ Lục Tĩnh, ngà Nguyễn đã có công khai phá và mở rộng lãnh thổ trên giải đất hình chữ S. Bên cạnh đó, là sự đóng góp về việc du nhập và phát triển văn hóa cũng như kinh tế trên một vùng đất mới với bao điều kiện thuận lợi. Tuy nhiên, để hoàn thiện và lãnh thỗ ranh giới như ngày nay, vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh đã trai qua bao sóng gió từ những cộc chiến thời phong kiến cho đến cuộc cách mạng hiện đại.