Tháp Bà Ponagar – huyền thoại và sự thật Champa vùng Khauchra

Cùng với bảo tháp Nhạn của tỉnh Phú Yên, tháp Bà Ponagar của tỉnh Khánh Hòa là công trình kiến trúc tiêu biểu của Champa tại vùng Khauchra. Đặc biệt, công trình kiến trúc đền tháp Ponagar là chứng nhân lịch sử của các triều đại trị vì Champa từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XV. Không những vậy, công trình kiến trúc đền tháp Ponagar còn là nơi lưu giữ những dấu ấn văn hóa đặc sắc của người Chăm trên dải đất duyên hải miền Trung.

Tháp Bà Ponagar – điểm tham quan hấp dẫn tại thành phố biển Nha Trang

Tọa lạc trên ngọn đồi nhỏ có độ cao khoảng 12m của dãy núi Cù Lao tại phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang (Aia Trang – Khauchra xưa), nơi nhánh sông Cái thơ mộng chảy ra biển.

Công trình kiến trúc đền tháp Ponagar được xây dựng vào khoảng thế kỷ VIII, và liên tục tu bổ hoàn thành đến thế kỷ XIII. Người khởi công xây dựng công trình này có thể là quốc vương Hoàn Vương Quốc Harivarman I, năm xây được cho là năm 813 – 817.

Thực chất, tên gọi chính xác và đầy đủ của tháp là Yang Po Inư Nagar hay Yang Pô Ana Gar (Inư, Ana trong tiếng Chăm, Eđê, Jarai có nghĩa là giống Cái, tên đầy đủ là Po Inư Nagar, hay còn gọi là Po Anagar). Tuy nhiên, người ta dùng tên gọi Ponagar (người Việt gọi là bà chúa Ngọc, Bà Đen hay Thiên Y Thánh Mẫu A Na) được dùng để chỉ chung cả công trình kiến trúc này, chính xác hơn là chỉ ngọn tháp lớn nhất (cao khoảng 23 mét).

Điều khác biệt là trong tất cả đền tháp, tháp Ponagar được xây dựng vào thời kỳ đạo Hindu (Ấn Độ giáo) đang cường thịnh khi (thời Hoàn Vương quốc), vì thế tượng nữ thần có hình dạng của Uma, vợ của Shiva.

Khi nói đến công trình kiến trúc đền tháp Ponagar (nhóm đền tháp Ponagar), thật khó có thể vài lời mà nói hết được. Mà đó phải là một quá trình tường thuật của những câu chuyện truyền thuyết đến những nghi thức, lễ hội Bà hiện nay. Đầu tiên, điều phải nói đến là …

Tháp Bà Ponagar Nha Trang

Tháp Bà Ponagar Nha Trang

Những câu chuyện truyền thuyết chưa lời giải mã

Cũng như những công trình kiến trúc tháp tại vùng đất Phan Rang – Ninh Thuận như tháp Hòa Lai (Tk IX), tháp Po Klaong Garai (TK XIII – XIV) … hay đền tháp Nhạn của vùng đất xứ Nẫu Phú Yên. Công trình kiến trúc đền tháp Bà Ponagar gắn liền với nhiều truyền thuyết chưa lời giải mã.

Truyền thuyết của người Việt về Thánh Mẫu Thiên Y A Na và hoàng tử Bắc Hải

Theo đó, truyền thuyết xưa kể lại rằng: “Lúc bấy giờ tại núi Đại An (Đại Biển) có hai vợ chồng tiều phu đến cất nhà, trồng dưa tại nơi triền núi. Suốt một thời gian dài, hễ cứ trái dưa nào chín là mất mà không hiểu lí do vì sao. Một hôm, ông lão rình và bắt gặp một cô bé khoảng 10 tuổi đang hái dưa rồi vui đùa dưới ánh trăng. Thấy cô bé dễ thương, xinh xắn, ông liền đem về nuôi và thương yêu như con ruột.

Một hôm, trời mưa to gió lớn, cảnh vật tiêu điều. Buồn bã, cô bé lấy đá chất thành ba hòn dã sơn rồi hái hoa cắm lên để ngắm. Ông lão vô tình thấy được thì giật mình vì nghĩ hành vi này của con không hợp với khuê tắc nên đã la rầy cô bé.

Bị cha mắng, cô bé tủi thân bèn đi ra đầu hồi nhà, đứng khóc một mình. Một lúc lâu sau, nhân lúc bố mẹ không ai để ý, cô lại lén đi ra khỏi nhà rồi men theo những dải đất cao đi ra phía bờ biển. Cũng lúc ấy, dập dềnh bên mé nước có một cây gỗ kỳ nam, không biết trôi từ đâu đến. Cô bé ngồi buồn, ríu rít khóc sao thấy mình cô đơn quá nên cô đi tới ngồi lên khúc kỳ nam. Và một điều kỳ lạ đã xảy ra, cô bé vừa nhảy lên thì bị hút luôn vào trong khúc gỗ.

Lúc bị hút vào, khúc gỗ không trôi đi liền mà dập dềnh tại chỗ như còn điều gì quyến luyến. Một lát sau thì khúc gỗ được sóng đưa ra ngoài biển rồi trôi dạt lên phương Bắc.

Ông bà bố mẹ nuôi cô gái vì đang bận việc nhà, tưởng con khóc rồi đi ra ngoài chơi nên không để ý. Đến mãi sau, khi lên tiếng gọi thì chẳng thấy con đâu. Hai ông bà hốt hoảng đi tìm con khắp nơi nhưng vẫn bạc vô âm tín. Nước lụt mênh mang như thế, lại đang chảy mạnh ra biển nên ông bà nghĩ con bị trượt chân đã trồi ra biển mất rồi. Thế là ông bà gào thét, khóc than thảm thiết, sau đó làm lễ cúng chay cho con và từ đấy trở đi, ông bà sống âm thầm cho đến cuối đời.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, khúc kỳ nam trôi mãi… trôi mãi cả ngàn dặm đường. Cho đến khi sóng lặng gió yên, những cơn sóng đã vô tình đưa khúc kỳ nam trôi dạt.

Một buổi sáng, dân địa phương nọ ra biển thì vô cùng ngạc nhiên khi thấy khúc gỗ có hình hài đẹp mặt, tỏa ngát hương thơm không biết trôi từ đâu đến. Hiếu kỳ, dân trong vùng kêu trai tráng xuống khiêng lên nhưng dù cố mấy cũng không nhấc nổi. Thấy vậy, dân địa phương dùng dây buộc lại để tính cách khác, kéo khúc gỗ lên.

Ngày qua ngày, tin đồn về khúc gỗ đẹp có hương thơm tỏa ngát lan ra khắp nơi, người dân kéo đến xem ngày càng nhiều hơn. Cũng trong lúc đó, hoàng tử Bắc Hải đang đi chu du đến làng biển này thì nghe tin về khúc gỗ. Cũng hiếu kỳ, ngài liền chạy đến và giơ tay nhấc thử, ai ngờ khi hoàng chạm tay vào thì khúc gỗ nhẹ như tờ giấy. Hỏi qua dân làng, hoàng tử Bắc Hải xin đem về kinh để làm báu vật, trưng bày trong cung.

Đem về cùng khoảng thời gian, một đêm dưới ánh trăng mờ, hoàng tử bỗng thấy trong khúc kỳ nam biến ra một cô gái nhan sắc tuyệt trần. Bị cuốn hút trước nhan sắc đó, hoàng tử chạy đến thì tứ bề vắng vẻ như chưa có chuyện gì xảy ra. Và từ đó, tối hôm nào hoàng tử cũng ngồi canh để mong gặp lại cô gái đó.

Chờ đợi mãi rồi cũng đến, cô gái có sắc đẹp tuyệt trần ấy lại đi ra từ khúc kỳ nam được. Hoàng tử vội chạy tới ôm chặt lấy cô làm cô không kịp biến vào khúc kỳ nam được. Sau một lúc trò chuyện, hoàng tử Bắc Hải mới ngỡ cô là Thiên Y Ana. Thấy Ana có vẻ đẹp khác thường, Bắc Hải đem lòng yêu thương say đắm rồi chàng xin vua cha cho lấy Ana làm vợ. Vua cha đồng ý, đám cưới được tổ chức linh đình, từ đó một hạnh phúc đầy êm ấm mở ra. Khoảng vài năm sau, Ana và hoàng tử Bắc Hải đã có với nhau hai người con (một nam, một nữ) mặt mũi người nào cũng khôi ngô tuấn tú.

Cho đến một ngày, nỗi lòng nhớ quê, nhớ cha mẹ dâng trào nên, Ana muốn về thăm nhưng không sao đi được. May thay, đang bối rối thì nghe tin hoàng tử Bắc Hải được vua cha giao nhiệm vụ đi kinh lý. Ngay lập tức, Ana dẫn hai con về chốn xưa thăm quê hương, cha me. Nàng đâu ngờ rằng, núi Đại An còn đó nhưng cha mẹ nuôi của Ana đã về với cõi âm. Buồn lòng hồi lâu, Thiên Y Ana cùng hai con xây đắp mồ mả cho cha mẹ rồi sửa sang lại nhà cửa để thờ phụng.

Trong một lần dẫn con đi dạo tại ngôi làng gần đó, thấy nhân dân ở đây còn lạc hậu nên bà đã chỉ họ cách cày cấy, dệt sợi, kéo vải… và đặt ra các lễ nghi. Từ đó, cuộc sống của người dân nơi núi Đại An được thay đổi, ai cũng ăn no mặc ấm. Đến một ngày, có con chim hạc từ trên bay xuống, Thiên Y Ana cùng hai con cưỡi hạc và bay về trời. Nhân dân nơi đây nhớ ơn bà, nên đã xây tháp thờ phụng và hằng năm vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, đều làm lễ dâng hoa tưởng niệm.

Hoàng tử Bắc Hải đi kinh lý trở về, thấy vợ và hai con biến mất mà chẳng ai hay. Chàng lập tức cùng một số giai nhân, binh lính lên thuyền xuôi về phương Nam để tìm vợ và hai con. Chưa tìm được vợ và hai con thì thuyền đi đến cửa biển Đại An thì gặp trận cuồng phong, tất cả đều bị chôn vùi dưới đáy biển.

Cái lạ là nơi thuyền của hoàng tử Bắc Hải bị đắm sau này mọc lên những mô đá nhỏ có nhiều chữ nổi kỳ lạ. Càng lạ hơn những chữ nổi trên các mô đá này không ai có thể dịch và đọc được. Nhiều người cho rằng, chắc đây là những chữ mà Thiên Y Thánh Mẫu A Na đã viết cho hoàng tử Bắc Hải nên chỉ có hoàng tử mới đọc được.

Tương truyền của người Chăm về Nữ vương Po Ina Nagar

Thiên Y Thánh Mẫu A Na

Thiên Y Thánh Mẫu A Na

Khác với truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian của người Việt, tương truyền trong dân gian của người Chăm về Thiên Y Thánh Mẫu A Na được kể theo cách khác.

Tương tuyền, Nữ vương Po Ina Nagar (tiếng Chăm gọi là Yang Ponagara, còn theo tiếng Việt gọi là bà chúa Ngọc, Bà Đen hoặc Thiên Y Thánh Mẫu An), là vị nữ thần được tạo nên bởi áng mây trời và bọt biển. Chính vị nữ thần này đã tạo dựng ra trái đất, sản sinh ra nhiều gỗ quý, cây cối và lúa gạo. Đặc biệt, bà là người có 97 người chồng, tuy nhiên trong đó chỉ một mình Po Yan Amo là người có uy quyền và được tôn trọng hơn cả.

Trong quá trình sinh sống, đến nay chưa có một truyền thuyết nào nói về số lượng con cái của bà. Thế nhưng, theo truyền thuyết dân gian của người Chăm truyền tai nhau, Yang Ponagara có 38 người con gái, tất cả đều hóa thân thành nữ thần. Trong đó có ba người được người Chăm chọn làm thần bảo vệ đất đai và còn thờ phụng cho tới ngày nay là Ponagar Dara – nữ thần Khauchra (Khánh Hòa), Po Rarai Anaih – nữ thần Panduranga (Ninh Thuận) và Po Bia Tikuk – nữ thần Manthit (Phan Thiết).

Theo như truyền thuyết, tượng bà Thiên Y Thánh Mẫu Ana là tượng theo tín ngưỡng phồn thực của người Chăm cho nên không có quần áo. Nhưng sau nhiều biến cố lịch sử, tượng Bà Ponagar hiện nay được người Việt Nam sử dụng và đã cho nữ thần ăn mặc theo kiểu Phật. Trong kháng chiến chống Pháp, người Pháp đã chặt đầu và lấy đem về nước, ngày này, bức tượng bà vẫn còn đó nhưng đầu bà đã được làm lại bằng xi măng.

Tháp Bà Ponagar và những thăng trầm trong lịch sử Champa

Theo như tài liệu Chăm ghi chép lại, trước khi xây dựng ngôi đền bằng gạch trên ngọn đồi gần cửa sông Cái. Ngôi tháp trước kia được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ để thờ nữ vương Jagadharma (công chúa Tchou kotu hay Thiên Y Thánh Mẫu), người cai trị nhà nước Lâm Ấp (646 – 653).

Về sau, ngôi đền được Prithi Indravarman cho xây dựng lại bằng vật liệu cứng tại Aya Tră (Nha Trang), trên một ngọn đồi cao cạnh cửa sông Cái (Xóm Bóng), để thờ tượng nữ thần Bhagavati (bằng vàng). Năm 774, quân Nam Đảo (Java, Indonesia) vào cướp phá, đền Ponagar bị quân Nam Đảo phá hủy.

Cuộc chiến diễn ra khoảng 3 năm, người Chăm đánh đuổi quân Nam Đảo ra khỏi đất liền. Vua Satyavarman cho dựng lại bằng gạch, năm 784 thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay, nhưng cũng đã bị hủy hoại một phần đáng kể.

Sau này quốc vương Harivarman I và con trai ông là Vikrantavarman III đã lần lượt xây dựng thêm 5 tháp nữa vào giai đoạn thế kỷ X và XI. Cũng từ giai đoạn này, tháp Bà Ponagar không được xây dựng thêm nữa và cứ thế mà tồn tại cho đến ngày nay.

Tháp Bà Ponagar và phong cách kiến trúc cổ chuyển tiếp từ Mỹ Sơn đến Bình Định

Kiến trúc tháp Ponagar

Kiến trúc tháp Bà Ponagar

Tổng thể kiến trúc tháp được xây dựng theo 3 tầng, gồm tầng thấp, tầng giữa và tầng trên cùng. Mỗi tầng là một sự thể hiện khác nhau về bài trí bố cục tháp cũng như tượng thờ. Cụ thể, …

Tầng thấp của tháp ngang với mặt đất là ngôi tháp cổng như những ngôi đền khác tại Phan Thiết, Phan Rang. Tuy nhiên, do bị tàn phá bởi chiến tranh nên tháp cổng dưới tầng tháp không còn nữa. Bên trên tầng thấp qua những bậc tam cấp là tầng giữa hay còn gọi là Mandapa từ là nhà khách, nhà tĩnh tâm dành để cho khách hành hương nghỉ ngơi. Tổng thể kiến trúc tháp tại tầng giữa là tháp Mandapa dài 20m, rộng 15m gồm 4 hàng cột bát giác với 10 cột lớn và 12 cột nhỏ. Trên thân các cột lỗ lớn là các lỗ mộng khoét sâu vào thân cột, đối xứng ngang bằng với các cột nhỏ.

Tầng trên cùng của tháp là một quần thể kiến trúc tháp hoàn toàn được xây dựng theo kiểu Chăm. Tại các tháp này, gạch xây rất khít với nhau và không thấy chất kết dính như những ngôi đền tháp tại các tỉnh thành khác. Đặc biệt, lòng tháp rỗng tới đỉnh, cửa tháp quay về hướng đông, mặt ngoài thân tháp có nhiều gờ, trụ, đấu. Không những vậy, trên đỉnh các trụ, thường đặt gạch trang trí hoa văn hình vòm tháp, trông như chiếc tháp nhỏ đặt lên một tháp lớn. Thú vị hơn cả là có nhiều tượng và phù điêu bằng đất nung, trong đó có hình Ponagar, thần Tenexa, các tiên nữ, các loài thú như nai, ngỗng vàng, sư tử…

Điều ấn tượng nhất trong những ngôi tháp tại tầng trên này là ngôi tháp chính (tháp Bà) cao khoảng 23 mét, nơi đặt tượng thờ Ponagar. Nguyên thủy, đây chính là tháp thờ thần Parvati, vợ của Shiva, nay thờ thần Ponagar (Umar), vợ của thần Siva.

Kiến trúc tháp Bà được xây 4 tầng, mỗi tầng đều có cửa, tượng thần và hình thú bằng đá, ở 4 góc có 4 tháp nhỏ. Bên trong là tượng nữ thần (cao 2,6 m) tạc bằng đá hoa cương màu đen (trước đó là gỗ trầm hương, và xa hơn nữa là bằng vàng) ngồi trên bệ đá uy nghiêm hình đài sen, lưng tựa phiến đá lớn hình lá bồ đề. Đây là một kiệt tác về điêu khắc Chămpa, là sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tượng tròn và chạm nổi.

Trên đỉnh tháp bà Ponagar còn có cả thần Shiva cưỡi ngưu thần Nandin và các tượng linh vật như chim thiên nga, dê, voi… Mặt ngoài tường là những bức phù điêu khắc hình những vũ công, người chèo thuyền, xay gạo, đi săn với cung tên, giáo gậy. Đặc biệt, cửa chính phía đông dẫn vào tiền sảnh được khắc truyền ký đỡ một phiến đá hình thuẫn khắc nữ thần Durga đang múa cùng các nhạc công.

Cửa chính ở phía đông dẫn vào một tiền sảnh, ở hai bên cửa có hai trụ đá được khắc truyền ký, đỡ một phiến đá hình thuẫn có khắc hình nữ thần Durga đang múa giữa hai nhạc công. Bên trong tháp tối và lạnh.  Cuối tháp có một bệ thờ bằng đá bên dưới tượng Bà Ponagar với mười cánh tay. Hai bàn tay dưới đặt trên hai đầu gối, các bàn tay khác thì cầm những vật dụng như đoản kiếm, mũi tên, chùy …

Khác với nhiều công trình đền tháp khác, đền tháp Bà Ponagar được tu bổ qua nhiều thời kỳ, từ thế kỷ VII đến thế kỷ XI. Trải qua mưa nắng của thời gian, tháp bị hư hại nặng. Thời Pháp thuộc, trường Viễn Đông Bác Cổ đã tổ chức tu bổ lại nhiều phần và đắp một số tượng lên thân tháp. Trong thời kỳ chiến tranh, nhiều hiện vật bị mất cắp.

Năm 1979, Bộ Văn Hóa Thông Tin nay là Bộ Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch đã công nhận công trình kiến trúc đền tháp Bà Ponagar là di tích cấp quốc gia.

Tháp Bà Ponagar và nét đẹp trong đời sống văn hóa tâm linh

Những cô gái biểu diễn múa ở lễ hội

Lễ hội Tháp Bà Ponagar

Để nhớ ơn công đức của Thiên Y Thánh Mẫu A Na, hàng năm cứ đến ngày ngày 21 tháng 3 âm lịch; chính quyền địa phương phối hợp với sở văn hóa thể thao và du lịch tổ chức “Lễ hội Tháp Bà Ponagar”. Thời gian diễn ra lễ hội sẽ bắt đầu từ ngày 21 đến ngày 23 âm lịch.

Khác với một số lễ hội khác của người Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận và Bình Thuận trên các đền tháp như Kate (lễ tưởng nhớ những người đã khuất), Yor Yang (lễ chuyển mùa), Cabbur (Lễ tưởng nhớ mẹ xứ sở) … Lễ hội tháp Bà Ponagar dung hòa các nghi thức của người Chăm và người Việt.

Trình tự, lễ hội sẽ diễn ra các nghi thức sau đây…

  • Lễ thay y phục: được tiến hành đúng giờ Ngọ ngày 20 tháng 3. Vị chủ tế dâng trầm hương, nhang, hoa, trái cây và khấn vái. Các thành viên trong đội thay y thực hiện việc sắp xếp đồ lễ trong dinh và cởi xiêm y, mũ miện để tắm tượng. Nước dùng để tắm tượng được nấu từ rượu với nước và các cánh hoa có mùi thơm (5 loại) …
  • Lễ thả hoa đăng: diễn ra từ 19 giờ đến 21giờ ngày 20 tháng 3. Nến và hoa được thả trên sông để cầu siêu cho các vong linh, với hơn mười ngàn chiếc hoa đăng nhỏ và năm hoa đăng lớn ...
  • Lễ cầu quốc thái dân an: bắt đầu từ 6 giờ đến 8 giờ ngày 21 tháng 3, nghi thức này do Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Khánh Hòa thực hiện.
  • Lễ cúng Ngọ, cúng thí thực: diễn ra từ 12 giờ đến 12 giờ 30 ngày 21 tháng 3 tại ngôi tháp chính, để dâng Mẫu và bố thí cho các cô hồn.
  • Tế lễ cổ truyền: diễn ra từ 4 giờ đến 6 giờ ngày 23 tháng 3, do các cụ hào lão đình Cù Lao dâng lễ theo nghi thức cổ truyền, rất trang nghiêm.
  • Lễ Khai Diên, lễ Tôn Vương: diễn ra từ 6 giờ đến 9 giờ ngày 23 tháng 3. Sân lễ được dựng trước Mandapa (tiền đình), mặt hướng vào điện thờ Đức Thánh Mẫu.
  • Lễ Dâng hương tạ Mẫu: diễn ra từ 23 giờ đến 24 giờ ngày 23 tháng 3, để dâng hương đăng lễ tạ Mẫu.
  • Lễ Dâng hương tạ Mẫu: diễn ra từ 23 giờ đến 24 giờ ngày 23 tháng 3, để dâng hương đăng lễ tạ Mẫu.

Song song trong các nghi lễ này là nghệ thuật múa Bóng và hát Văn. Múa Bòng và hát Văn này được xem là linh hồn trong quá trình diễn ra lễ hội tháp Bà Ponagar.

Tham gia lễ hội có người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận. Cùng với đó là người Việt đến từ nhiều nơi và một số dân tộc thiểu số khác ở các tỉnh thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên như Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên, Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng, Thừa Thiên – Huế …

Cái hay, cái ý nghĩa của lễ hội tháp Bà Ponagar này là sự hội tụ các giá trị truyền thống của quá trình giao lưu văn hóa Việt – Chăm trong lịch sử. Quan trọng hơn cả là dịp để bà con trở về với cội nguồn, trở về với quê hương, với dân tộc. Qua đó bồi đắp, lưu truyền và truyền bá những truyền thống văn hóa tốt đẹp cho các thế hệ mai sau. Không những vậy, lễ hội chính là biểu tượng của sự đoàn kết dân tộc trên dải đất miền Trung nói riêng và Việt Nam nói chung.

Thông tin tham quan tháp Bà Ponagar

  • Địa chỉ: Tháp Bà Ponagar – đường 2 tháng 4 – phường Vĩnh Phước – thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa.
  • Thời gian: 7h00 – 17h30 hàng ngày.
  • Giá vé: 22,000 vnđ/ người.

Kafin