Đà Lạt

Du lịch Đà Lạt

Đà Lạt hiện đang là thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng cùng với thành phố Bảo Lộc. Thành phố Đà Lạt còn được gọi bằng nhiều cái tên như thành phố ngàn hoa, thành phố sương mù, thành phố ngàn thông, thành phố hoa anh đào, tiểu Pari,..

Vậy cái tên Đà Lạt có nguồn gốc từ đâu và ý nghĩa như thế nào? Có nhiều người giải thích khác nhau nhưng cách giải thích được công nhận chính thức là có nguồn gốc từ chữ "Đạ Lạch". Đây là tên của một con suối thuộc bộ phận suối Cam Ly, là đoạn tính từ Hồ Than Thở đến thác Cam Ly (ngày nay). Da hay Dak nghĩa là suối, nước. Lạch theo tiếng địa phương có nghĩa là “rừng thưa” dùng để chỉ vùng rừng thông, đồi trọc từ Langbiang trải dài xuống Tây Nam bao gồm Đà Lạt ngày nay. Một nhóm cư dân nhỏ người Cơ ho sống lâu đời trên cao nguyên Langbiang gọi là người Lạch (hay còn viết là Lát). Do đó hiểu theo ngôn ngữ của người Thượng, cái tên Đà Lạt ( Đạ Lạch) có nghĩa là suối hay nước của người Lạch (Lát). Sau này khi Đà Lạt được chọn làm nơi nghỉ dưỡng, cái tên Đà Lạt thường xuyên được xuất hiện. Về sau, người có công kiến thiết thành phố đã sáng tạo ra 1 câu nói (chữ Latinh) bằng cách ghép các chữ cái đầu trong chữ DALAT thành: dat aliis laetitiam, aliis temperiem: nghĩa là cho người này nguồn vui, cho kẻ khác sức khỏe.

Lịch sử

Năm 1893 nhận nhiệm vụ từ toàn quyền Jean-Marie de lanessan, bác sĩ Alexandre Yersin đã tiến hành khảo sát tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên qua vùng đất của người Thượng, trên đường thám hiểm ông đã tới cao nguyên Lâm Viên.
1897 Toàn quyền Paul Domer tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng cho người Pháp , ông đã hỏi ý kiến của Alexandre Yersin và đã được giới thiệu về cao nguyên Lâm Viên, đây là vùng đất lý tưởng thỏa mãn độ cao thích hợp, diện tích đủ rộng, nguồn nước đảm bảo, khí hậu ôn hòa, có thể thiết lập đường giao thông.
Cuối tháng 3 năm 1899 Paul Doumer cùng với Alexandre Yersin đích thân đến khảo sát thực tế cao nguyên Lâm Viên.
1902, toàn quyền Paul Doumer trở về Pháp, dự án xây dựng bị gián đoạn, người kế nhiệm là toàn quyền Paul Beau không sốt sắng về dự án này, nên bước đầu mới dừng lại ở việc xây dựng các tuyến đường giao thông tới Đà Lạt
Giữa thập niên 1910 Chiến tranh thế giới 1 bùng nổ, nhiều người Pháp không trở về quê hương nên họ đã tìm đến Đà lạt để tìm một chút gì đó của quê hương nước Pháp. 
20-4- 1916 Hội đồng Phụ chính của vua Duy Tân thông báo Dụ thành lập thị tứ Đà Lạt.
Toàn quyền Maurice Long bổ nhiệm Ernest Hesbrard làm chủ sự quy hoạch thị trấn Đà Lạt. Hebrad đã chủ trương sử dụng kiến trúc cổ châu Âu kết hợp với mĩ thuật Việt Nam để tạo ra vô số công trình kiến trúc tiêu biểu cho thành phố Đà Lạt. Cùng với đó ông vẽ ra đồ án tạo dựng vườn hoa, trường sở, sân vận động, biệt thự và hoàn toàn không có công xưởng sản xuất với mục đích giữ nguyên hiện trạng một thị trấn trong lành và yên tĩnh.
30 năm sau, từ một địa điểm hoang vu, một thành phố đã được hình thành với hệ thống cơ sở vật chất, bệnh viện, trường học, khách sạn, công sở, dinh thự. Đến thập niên 1940 Đà Lạt phát triển cực thịnh, trong những năm chiến tranh thành phố vẫn giữ vai trò của một trung tâm du lịch nghỉ dưỡng và khoa học giáo dục của Việt Nam Cộng hòa. Nhiều trường học, trung tâm văn hóa và công trình kiến trúc liên tiếp ra đời, người Bắc di cư vào Nam cũng định cư nhiều ở Đà Lạt.
Tuy nhiên sau 1964, khi chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt, việc phát triển đô thị không được chú trọng  mà thay vào đó là đầu tư vào những công trình phục vụ mục đích quân sự
Chiến tranh kết thúc, Đà Lạt phải đối đầu với khó khăn về lương thực thực phẩm. Vì vậy lúc đó, thay vì xây dựng phát triển thành phố thì nhà quản lí đã mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp nhằm giải quyết khó khăn trước mắt, cũng từ đó mà việc mở rộng nông nghiệp ồ ạt, đã ảnh hưởng không ít đến cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái của thành phố.
Từ cuối thập niên 1980, đầu 1990, làn sóng du lịch tìm tới Đà Lạt nhiều hơn, thành phố dần phát triển trở lại, hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp tục được xây dựng.
Sau 1975 thành phố Đà Lạt có 6 phường, 3 xã. Đến 1986 chia lại thành 12 phường ( phường 1 đến phường 12) và 4 xã ( Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trường, Trạm Hành).
Năm 1999 Đà lạt được công nhận là đô thị loại II.
Năm 2009, Đà Lạt chính thức trở thành thành phố đô thị loại I trực thuộc tỉnh Lâm Đồng.

Địa lý

Diện tích : 394,64 km2 
Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lâm Viên, cao 1500m so với mực nước biển, phía Bắc giáp huyện Lạc Dương, phía đông và đông nam giáp huyện Đơn Dương, phía tây Giáp huyên Lâm Hà, phía tây nam giáp huyện Đức Trọng. Địa hình chủ yếu là  núi và bình nguyên trên núi. Núi bao quanh thành phố, các dãy núi cao 1700m tạo thành vành đai chắn gió, che chắn cho khu vực lòng chảo trung tâm.
Phía Bắc là dãy Langbiang, với 2 đỉnh cao 2167m và 2064m.
Phía Đông và Đông Nam là dãy Bi Doup và Cho Proline.
Phía nam, địa hình núi thấp hơn: đèo Prenn, núi cao xen thung lũng sâu.
Trung tâm Đà Lạt như một lòng chảo hình bầu dục dọc theo hướng Bắc – Nam kéo dài 18km, rộng 12km.
Hệ thống suối:
Đà Lạt có khoảng hơn 20 dòng suối dài trên 4km, thuộc các hệ thống suối Cam Ly, Đa Tam, và hệ thống sông Đa Nhim; khoảng 16 hồ lớn nhỏ phân bố rải rác, đa phần là hồ nhân tạo. Từ  năm 1986, Hồ Xuân Hương, Hồ Chiến Thắng, và Hồ Than Thở trở thành nguồn cung cấp nước chủ yếu cho thành phố. Đến nay nguồn nước chính được lấy từ hồ Dankia huyện Lạc Dương, cách Đà Lạt 17km.

Khí hậu

Đà Lạt nằm trong vùng khí hậu miền núi, ôn hòa, dịu mát quanh năm. Một năm có hai mùa: mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa: tháng 4 - tháng 10. Mưa lớn và kéo dài nhiều ngày.
Mùa khô: tháng 11 - đến tháng 3 năm sau. Thời tiết nắng ấm, ít mấy, không mưa, ban đêm nhiệt độ xuống thấp, biên độ nhiệt lớn
Nhiệt độ trung bình năm của Đà Lạt không bao giờ vượt quá 20oC
Biên độ nhiệt ngày đêm rất lớn: trung bình năm đạt 11 oC.
Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng thì nhỏ: tháng ấm nhất và tháng lạnh nhất chỉ chênh nhau 3,5 oC
Tổng số giờ nắng cao: 2258 giờ/ năm, tập trung vào tháng 12,1,2,3.
Sương mù: là hiện tượng thời tiết đáng chú ý ở Đà Lạt, xuất hiện nhiều vào khoảng tháng 2-5 và tháng 9-10.

Dân cư

Cộng đồng dân cư Đà Lạt thay đổi gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thành phố. Năm 1893 khi bác sĩ Alexandre Yersin phát hiện ra cao nguyên Lâm Viên, nơi đây chỉ là một vùng dân cư thưa thớt, chủ yếu là người Lạch sinh sống trong vài ngôi làng dưới chân núi.
Năm 1902, dự án xây dựng thành phố tạm ngừng, dân cư vẫn chỉ là những nhóm dân tộc người Lạch, người Chil và một số nhóm người Việt di cư lên trước đó. Năm 1906, khi dụ án xây dựng thành phố tiếp tục triển khai, lúc bấy giờ các công chức người Pháp, du khách Châu Âu và người Việt đến đây nhiều hơn.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, dân số Đà Lạt tang đáng kể đạt tới 11.500 người (1939), trước đó chỉ là 1500 người (1923).
Chiến tranh thế giới thứ 2 xảy ra, nhiều người Pháp không về được quê hương nên đã chọn ở lại Đà Lạt, khi đó dân số tăng nhanh chóng đạt tới 25.500 người (1944).
Chuyển biến bất ngờ vào năm 1946 dân số Đà Lạt chỉ còn 5200 người, do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Đông Dương, người dân di cư về Cầu Đất, Đơn Dương, Ninh Thuận, Bình Thuận hoặc trở về quê hương cũ rất nhiều. Lúc bấy giờ Đà Lạt mang trong mình cái tên “ Thành phố quạnh hiu”.
Sau đó, Đà Lạt lại thuộc về người Pháp, dân số tăng trở lại, đạt khoảng 25000 người.
Đến 1953-1956, chiến tranh Đông Dương trở nên khốc liệt, Đà Lạt được chọn làm nơi lánh nạn, dân cư từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung ồ ạt di cư đến khiến dân số Đà Lạt tăng nhanh chóng ,đạt tới hơn 58000 người
Trong những năm 1960, dân số gia tăng điều hòa. Khoảng những năm 1975, sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, một số lượng chiến binh phục vụ quân đội trở về quê hương cũ, khiến dân số Đà Lạt giảm xuống, tuy nhiên dân cư mới lại được bổ sung từ miền Bắc và miền Trung di cư vào. Đến 2011, Đà Lạt đã được mở rộng về địa giới hành chính, dân số gia tăng mạnh mẽ, đạt 211.696 người.
Dân tộc: bao gồm nhiều nhóm dân cư có nguồn gốc đa dạng như người Kinh, Cơ Ho, người Hoa, người Pháp, trong đó người Kinh chiếm tỷ trọng lớn nhất
Dân cư phân bố không đều, tập trung ở Phường 1, 2, 6. Ở ngoại thành như các xã Xuân Trường, Xuân Thọ, Tà Nung dân cư còn khá thưa thớt, chủ yếu sống bằng nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.